Nội dung HTML Nội dung HTML

Vui lòng cấu hình chọn 1 nội dung

Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

“BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ NGƯỜI ĐẮK LẮK VĂN MINH - THÂN THIỆN - MẾN KHÁCH” - NHỮNG QUY TẮC ỨNG XỬ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ()

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành "Bộ quy tắc ứng xử Người Đắk Lắk Văn minh - Thân thiện - Mến khách".

Đây là những quy tắc mang tính chuẩn mực nhằm định hướng hành vi, thái độ, thói quen, cách ứng xử văn minh, thân thiện, mến khách của người dân Đắk Lắk. Qua đó góp phần nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân về ứng xử, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, từng bước tạo được niềm tin, sự đồng thuận, thân thiện, mến khách của người dân Đắk Lắk đối với du khách đến sinh sống, học tập và tham quan du lịch tại tỉnh.

Sau đây là những Quy tắc ứng xử trên không gian mạng:                                 

BÍCH THUỶ

 

Các tin khác

CHẾ ĐỘ NGHỈ PHÉP NĂM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NĂM 2022 ()

Chế độ nghỉ phép năm của Người lao động được thực hiện theo quy định theo Bộ luật Lao động 2019.

Đối với người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau: 

+ 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

+ 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

+ 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Ảnh minh họa

Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết.

Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 3 năm một lần.

Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 Bộ luật Lao động 2019.

Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 2 ngày thì từ ngày thứ 3 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 1 lần nghỉ trong năm.

Q.Giang

 

Các tin khác

PHÁT HIỆN, LẬP BIÊN BẢN 3.322 TRƯỜNG HỢP VI PHẠM GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG THÁNG CAO ĐIỂM ()

Qua 1 tháng ra quân đợt cao điểm (từ 20/6 đến 20/7/2022) kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, lực lượng Cảnh sát Giao thông (CSGT) toàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản 3.322 trường hợp vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ.

Lực lượng CSGT kiểm tra xe chở quá tải trọng cho phép (Ảnh minh họa)

Qua đó, tạm giữ 1.071 lượt phương tiện, xử phạt thu nộp Kho bạc Nhà nước 4,4 tỷ đồng, tước Giấy phép lái xe có thời hạn 520 trường hợp, góp phần quan trọng kiềm giảm tai nạn giao thông, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh. Các lỗi vi phạm chủ yếu như: chở hàng quá tải trọng cho phép 148 trường hợp; sử dụng ma túy khi điều khiển phương tiện 8 trường hợp; đi quá tốc độ 373 trường hợp; không đội mũ bảo hiểm 260 trường hợp; vi phạm nồng độ cồn 727 trường hợp (16 trường hợp không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn); không có Giấy phép lái xe 537 trường hợp…

Được biết, thực hiện Kế hoạch số 299/KH-BCA-C08, ngày 13/6/2022 của Bộ Công an và Kế hoạch số 113/KH-CAT-PC08, ngày 15/6/2022 của Giám đốc Công an tỉnh về "Cao điểm kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông", từ ngày 20/6 đến hết ngày 20/9/2022, lực lượng CSGT toàn tỉnh sẽ tập trung kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết cầu hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh.

Thủy Nguyễn

 

 

Các tin khác

ĐOÀN VIÊN, CNVCLĐ TỈNH ĐẮK LẮK HĂNG HÁI THAM GIA NGÀY HỘI HIẾN MÁU TÌNH NGUYỆN NĂM 2022 ()

Ngày 03/8, Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện tỉnh tổ chức Ngày hội ''Hiến máu tình nguyện trong công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ)" năm 2022.

 

 

 

Đông đảo đoàn viên, CNVCLĐ ở Đắk Lắk tích cực hưởng ứng tham gia Ngày hội hiến máu tình nguyện.

Đây là hoạt động thiết thực của các cấp Công đoàn và đoàn viên, CNVCLĐ trong chuỗi các hoạt động chào mừng kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2022); cũng là thể hiện tinh thần trách nhiệm của các cấp Công đoàn, nghĩa cử cao đẹp của đoàn viên, CNVCLĐ, góp phần cung cấp nguồn máu dự trữ, đáp ứng nhu cầu máu trong cấp cứu, điều trị bệnh tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh.

Ngày hội hiến máu tình nguyện đã thu hút sự tham gia của hơn 700 cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ

Ngày hội hiến máu tình nguyện đã thu hút sự tham gia của hơn 600 cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ thuộc các đơn vị như: Công đoàn ngành như: Giáo dục, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Giao thông vận tải, Công đoàn Viên chức tỉnh và LĐLĐ TP.Buôn Ma Thuột cùng khối các công đoàn cơ sở (CĐCS) trực thuộc LĐLĐ tỉnh Đắk Lắk…

Đồng chí Hoàng Anh Tuấn – Chủ tịch Công đoàn ngành Công thương tỉnh Đắk Lắk cho biết, triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch của LĐLĐ tỉnh, đơn vị này đã sớm thông báo đến các CĐCS trực thuộc để tuyên truyền, vận động đoàn viên, CNVCLĐ tích cực hưởng ứng, tham gia.

Theo đó, ngay từ sáng sớm các đoàn viên, CNVCLĐ đã tập trung đông đủ tại Nhà Văn hóa Lao Động tỉnh để làm thủ tục đăng ký hiến máu tình nguyện. Nhiều đoàn viên, CNVCLĐ bày tỏ sự đồng thuận, ủng hộ đối với hoạt động ý nghĩa này của LĐLĐ tỉnh.

 đoàn viên cực hưởng ứng phong trào hiến máu tình nguyện.

Đoàn viên CĐCS Thanh tra tỉnh Đắk Lắk Trần Tiến Đông cho biết: "Hằng năm, tôi đều tham gia hiến máu tình nguyện từ 1 đến 2 lần. Ngay khi công đoàn cơ quan triển khai vận động, tôi đã đăng ký ngay vì nghĩ rằng những giọt máu của mình sẽ giúp được ai đó khỏe mạnh hơn, thậm chí giữ được mạng sống. Hơn một tuần nay, tôi luôn chú ý đến sức khỏe của mình, đảm bảo đến hôm hiến máu sức khỏe được tốt nhất".

Còn anh KPă y Khoa, đoàn viên CĐCS Tỉnh đoàn Đắk Lắk thì vui vẻ chia sẻ: "Đây là hoạt động ý nghĩa được tổ chức thường niên của LĐLĐ tỉnh. Đông đảo đoàn viên, CNVCLĐ nhận thức được việc làm ý nghĩa này nên tích cực tham gia. Đến nay, tôi đã tham gia hiến máu được 10 lần".

Hơn 600 cán bộ, đoàn viên, NLĐ đã hiến được 644 đơn vị máu

Với tinh thần "Mỗi giọt máu cho đi, một cuộc đời ở lại", Ngày hội ''Hiến máu tình nguyện trong CNVCLĐ" năm 2022, đoàn viên, CNVCLĐ đã tình nguyện hiến tặng 644 đơn vị máu, kịp thời cung cấp cho các bệnh viện trên địa bàn tỉnh phục vụ công tác chữa bệnh cứu người.

Quỳnh Giang

Các tin khác

QUY ĐỊNH VỀ TINH GIẢN BIÊN CHẾ VỚI CÔNG CHỨC TỪ NĂM 2022 ()

Ngày 28/7/2022, Bộ Nội vụ có Công văn 3538/BNV-TCBC về tính hưởng chế độ, chính sách tinh giản biên chế.Theo đó, 10 quy định về tinh giản biên chế với công chức, viên chức năm 2022 cần lưu ý.

1. Về quản lý và sử dụng biên chế đã thực hiện tinh giản

Thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 113/2018/NĐ-CP, cụ thể:

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng tối đa 50% số biên chế đã thực hiện tinh giản và giải quyết chế độ nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật để tuyển dụng mới công chức, viên chức và lao động hợp đồng, bảo đảm thực hiện tinh giản biên chế theo đúng quy định của Đảng và của pháp luật.

Trường hợp Bộ, ngành, địa phương được thành lập tổ chức mới hoặc được cấp có thẩm quyền giao thêm chức năng, nhiệm vụ, thì Bộ, ngành, địa phương tự cân đối trong tổng biên chế được cấp có thẩm quyền giao để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

2. Về đối tượng tinh giản biên chế do sức khỏe không bảo đảm

Thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 143/2020/NĐ , cụ thể:

Điều 6. Các trường hợp tinh giản biên chế…

g) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế mà trong từng năm đều có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định của pháp luật hoặc trong năm trước liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định của pháp luật nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.

3. Về tiền lương tháng để tính chế độ tinh giản biên chế

- Tiền lương tháng để tính chế độ tinh giản biên chế thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định 108/2014/NĐ-CP.

+ Tiền lương tháng được tính bao gồm:

Tiền lương theo ngạch, bậc hoặc theo chức danh nghề nghiệp hoặc theo bảng lương; các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) và mức chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo quy định của pháp luật.

+ Tiền lương tháng để tính các chế độ trợ cấp quy định được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của 5 năm cuối (60 tháng) trước khi tinh giản.

Riêng đối với những trường hợp chưa đủ 5 năm (chưa đủ 60 tháng) công tác, thì được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của toàn bộ thời gian công tác.

- Riêng về cách tính tiền lương tháng để tính chế độ tinh giản biên chế được thực hiện như sau:

a) Đối với đối tượng tinh giản biên chế quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 6 Điều 2 Nghị định 108/2014/NĐ-CP .

Tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh; phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung; phụ cấp thâm niên nghề và mức chênh lệch bảo lưu lương được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư 04/2019/TT-BNV .

b) Đối với đối tượng tinh giản biên chế quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 2 Nghị định 108/2014/NĐ-CP :

- Trước ngày 01/5/2013: Hệ số mức lương được tính theo bảng lương của thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị, bảng lương của Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc kế toán trưởng ban hành kèm theo Nghị định 205/2004/NĐ-CP.

- Từ ngày 1-5-2013 trở đi: Hệ số mức lương được tính theo quy định tại bảng hệ số mức lương của viên chức quản lý chuyên trách ban hành kèm theo Nghị định 51/2013/NĐ-CP.

4. Thời gian để tính chế độ tinh giản biên chế

Thực hiện theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị định 108/2014/NĐ-CP .

4. Thời điểm được dùng làm căn cứ để tính đủ tuổi đời hưởng chế độ, chính sách nghỉ hưu trước tuổi là ngày 01 tháng sau liền kề với tháng sinh của đối tượng; trường hợp trong hồ sơ của đối tượng không ghi rõ ngày, tháng sinh trong năm thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh của đối tượng.

5. Thời gian để tính trợ cấp là thời gian làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các hội được tính hưởng bảo hiểm xã hội và đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (theo sổ bảo hiểm xã hội của mỗi người), nhưng chưa hưởng trợ cấp thôi việc hoặc chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ. Nếu thời gian tính trợ cấp có tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là 1/2 năm; từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 1 năm.

6. Khi thực hiện tinh giản biên chế không đúng đối tượng theo quy định của pháp luật, người đã hưởng chính sách tinh giản biên chế và cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp người đó có trách nhiệm như sau:

a) Người đã hưởng chính sách tinh giản biên chế phải hoàn trả số tiền đã thực nhận khi thực hiện chính sách, chế độ tinh giản biên chế theo quy định. Trường hợp người đó đã mất trong thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì sẽ không phải hoàn trả kinh phí đã nhận, số kinh phí này sẽ do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp người đó sử dụng kinh phí thường xuyên để thanh toán, ngân sách nhà nước không bổ sung kinh phí.

b) Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp người thực hiện tinh giản biên chế có trách nhiệm: Thông báo cho cơ quan bảo hiểm xã hội dừng thanh toán chế độ bảo hiểm xã hội cho người thực hiện tinh giản biên chế không đúng quy định; chuyển cho cơ quan bảo hiểm xã hội số kinh phí đã chi trả cho người thực hiện tinh giản biên chế trong thời gian hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế); chi trả cho người thực hiện tinh giản biên chế số tiền chênh lệch giữa chế độ người đó được hưởng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức với chế độ người đó đã hưởng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thanh toán cho các tổ chức liên quan các chế độ cán bộ, công chức, viên chức được hưởng theo quy định; chịu trách nhiệm thu hồi tiền hưởng chế độ, chính sách tinh giản biên chế đã cấp cho cán bộ, công chức, viên chức."

5. Về chính sách nghỉ hưu trước tuổi

Thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 143/2020/NĐ-CP và Công văn 4126/BNV-TCBC ngày 24-8-2021 xác định tuổi hưởng chính sách về hưu trước tuổi quy định tại Nghị định 143/2020/NĐ-CP .

6. Về chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 108/2014/NĐ-CP .

Theo đó, những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước được hưởng các khoản trợ cấp sau:

- Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng;

- Được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH.

7. Về chính sách thôi việc ngay

Thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 143/2020/NĐ-CP .

Đối tượng tinh giản biên chế có tuổi tối đa thấp hơn 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu tối thiểu và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định hoặc có tuổi thấp hơn 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi nếu thôi việc ngay thì được hưởng các khoản trợ cấp sau:

- Được trợ cấp 3 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm;

- Được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH.

8. Về chính sách thôi việc sau khi học nghề

Thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 108/2014/NĐ-CP , cụ thể:

Đối tượng tinh giản biên chế có tuổi đời dưới 45 tuổi, có sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật nhưng đang đảm nhận các công việc không phù hợp về trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, có nguyện vọng thôi việc thì được cơ quan, đơn vị tạo điều kiện cho đi học nghề trước khi giải quyết thôi việc, tự tìm việc làm mới, được hưởng các chế độ sau:

- Được hưởng nguyên tiền lương tháng hiện hưởng và được cơ quan, đơn vị đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian đi học nghề, nhưng thời gian hưởng tối đa là 06 tháng;

- Được trợ cấp một khoản kinh phí học nghề bằng chi phí cho khóa học nghề tối đa là 06 tháng tiền lương hiện hưởng để đóng cho cơ sở dạy nghề.

- Sau khi kết thúc học nghề được trợ cấp 3 tháng lương hiện hưởng tại thời điểm đi học để tìm việc làm;

- Được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội;

- Trong thời gian đi học nghề được tính thời gian công tác liên tục nhưng không được tính thâm niên để nâng lương hàng năm.

9. Về chính sách đối với người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ khác có phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn do sắp xếp tổ chức

Thực hiện theo quy định tại Điều 11 Nghị định 108/2014/NĐ-CP .

Cán bộ, công chức, viên chức do sắp xếp tổ chức thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ mới có phụ cấp chức vụ lãnh đạo thấp hơn so với phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng đến hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm hoặc hết nhiệm kỳ bầu cử.

Trường hợp đã giữ chức vụ theo thời hạn được bổ nhiệm hoặc nhiệm kỳ bầu cử còn dưới 06 tháng thì được bảo lưu 06 tháng.

10. Về nguồn kinh phí, chấp hành kinh phí và quyết toán

Thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư 31/2019/TT-BTC hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 117/2021/TT-BTC ).

Bình Minh (biên soạn)

 

 

Các tin khác

ĐẾN NĂM 2026, TINH GIẢN ÍT NHẤT 5% BIÊN CHẾ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ()

Ngày 18/7/2022, Bộ Chính trị ban hành Kết luận 40-KL/TW về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022 - 2026, trong đó nêu rõ đến 2026, tinh giản ít nhất 5% biên chế cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị.

Cụ thể, xem xét công tác quản lý biên chế cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống chính trị của những năm trước, Bộ Chính trị kết luận như sau: 

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. 

Giai đoạn 2021 - 2026, toàn hệ thống chính trị tinh giản ít nhất 5% biên chế cán bộ, công chức và ít nhất 10% biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

Đối với các cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị chưa thực hiện giảm đủ 10% biên chế giai đoạn 2016 - 2021 thì phải đồng thời:

+ Thực hiện mục tiêu tinh giản biên chế giai đoạn 2022 - 2026;

+ Tiếp tục thực hiện chỉ tiêu tinh giản biên chế giai đoạn 2016 - 2021. 

Những nơi thực hiện vượt chỉ tiêu giai đoạn 2016 - 2021 thì phần vượt được tính vào kết quả thực hiện giai đoạn 2022 - 2026.

- Biên chế được giao giai đoạn 2022 - 2026 không bao gồm lao động hợp đồng. 

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị tự quyết định việc sử dụng hợp đồng lao động và trả lương, phụ cấp cho lao động hợp đồng theo quy định từ ngân sách chi thường xuyên của cơ quan, đơn vị.

- Bộ Chính trị uỷ quyền cho Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định sử dụng biên chế dự phòng khi cần thiết (biên chế dự phòng khoảng 0,5% tổng biên chế). 

Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Toà án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước quản lý biên chế các cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị trực thuộc theo thẩm quyền.

Các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý biên chế chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển khai chủ trương, quyết định của Bộ Chính trị và thực hiện thẩm quyền giao, quản lý biên chế theo quy định; kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý, sử dụng biên chế của các cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị thuộc thẩm quyền.

- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với chủ trương, quy định của Đảng về quản lý biên chế…

Quốc Diễn (biên soạn)

 

 

Các tin khác

NHỮNG LƯU Ý VỀ CHÊ ĐỘ THAI SẢN KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬN CON NUÔI ()

Người lao động nhận nuôi con nuôi khi đáp ứng đủ điều kiện có thể được hưởng chế độ thai sản.

1. Đối tượng hưởng chế độ thai sản khi NLĐ nuôi con nuôi

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi và phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước nhận nuôi con nuôi thì được hưởng chế độ thai sản.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật BHXH 2014 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ (khoản 2 Điều 31, khoản 2 Điều 36 Luật BHXH 2014)

2. Thời gian hưởng chế độ thai sản khi NLĐ nuôi con nuôi

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 36 Luật BHXH 2014, cụ thể:

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

Trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật BHXH 2014 nhưng không nghỉ việc thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần quy định tại Điều 38 Luật BHXH 2014.

(Điều 11 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH)

3. Trợ cấp một lần khi NLĐ nuôi con nuôi

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.

Mức lương cơ sở hiện hành theo Điều 3 Nghị định 38/2019/NĐ-CP là 1.490.000 đồng/tháng.

(Điều 38 Luật BHXH 2014)

4. Mức hưởng chế độ thai sản khi NLĐ nuôi con nuôi

- Người lao động hưởng chế độ thai sản khi nuôi con nuôi được hưởng chế độ thai sản tính như sau:

+ Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

+ Mức hưởng chế độ khi  nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định nêu trên.

Trường hợp có ngày lẻ thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.

- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

Như vậy, người lao động khi nhận nuôi con nuôi còn có thể nhận mức hưởng chế độ thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng của 06 tháng trước khi nghỉ thai sản. (Điều 39 Luật BHXH 2014).

  (Quang Minh biên soạn)

 

 

Các tin khác

Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản trên Cổng dịch vụ công quốc gia ()

BHXH Việt Nam vừa có Quyết định về việc ban hành dịch vụ công trực tuyến Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe thuộc lĩnh vực thực hiện chính sách BHXH.

Quyết định cũng ban hành kèm theo phụ lục Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp DSPHSK sau ốm đau, thai sản, NLĐ-BNN gồm mức độ thực hiện; cơ quan thực hiện; đối tượng thực hiện, các trường hợp áp dụng, thành phần hồ sơ; số lương hồ sơ; mẫu biểu kê khai; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; thời hạn giải quyết; kết quả giải quyết.

Cụ thể, trường hợp áp dụng bao gồm:

Đối với hưởng chế độ ốm đau: Áp dụng đối với NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc bị ốm đau, tai nạn mà không phải là TNLĐ hoặc điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do TNLĐ- BNN phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở KCB có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế. NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở KCB có thẩm quyền. Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà thuộc một trong các trường hợp quy định ở trên.

Lưu ý: Không giải quyết chế độ ốm đau đối với các trường hợp NLĐ bị ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo Danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP. NLĐ nghỉ việc điều trị lần đầu do TNLĐ- BNN. NLĐ bị ốm đau, tai nạn mà không phải là TNLĐ trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động; nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH.

Đối với hưởng chế độ thai sản: NLĐ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp: Lao động nữ mang thai; Lao động nữ sinh con; Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản; Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con.

Lưu ý: NLĐ theo quy định nêu trên phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. NLĐ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở KCB có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Đối với hưởng trợ cấp DSPHSK sau ốm đau, thai sản, TNLĐ- BNN: NLĐ đã nghỉ hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định kể cả NLĐ mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi. Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. NLĐ đang tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN bắt buộc sau khi điều trị ổn định thương tật do TNLĐ hoặc bệnh tật do BNN bị suy giảm KNLĐ từ 15% trở lên, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi.

Thành phần hồ sơ đối với NLĐ bao gồm:

Chế độ ốm đau: NLĐ điều trị nội trú cần chuẩn bị: Bản sao Giấy ra viện của NLĐ hoặc của con NLĐ dưới 7 tuổi. Trường hợp người bệnh tử vong tại cơ sở KCB thì thay bằng bản sao Giấy báo tử; trường hợp Giấy báo tử không thể hiện thời gian vào viện thì bổ sung giấy tờ khác của cơ sở KCB có thể hiện thời gian vào viện. Trường hợp chuyển tuyến KCB trong quá trình điều trị nội trú thì có thêm Bản sao Giấy chuyển tuyến hoặc Giấy chuyển viện.

Điều trị ngoại trú, NLĐ chuẩn bị bản chính Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH. Trường hợp cả cha và mẹ đều nghỉ việc chăm con thì giấy chứng nhận nghỉ việc của một trong hai người là bản sao; hoặc giấy ra viện có chỉ định của y, bác sỹ điều trị cho nghỉ thêm sau thời gian điều trị nội trú.

Trường hợp NLĐ hoặc con của NLĐ KCB ở nước ngoài: Bản sao của bản dịch tiếng Việt giấy KCB do cơ sở KCB ở nước ngoài cấp.

Chế độ thai sản: Lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý; NLĐ thực hiện biện pháp tránh thai mà điều trị nội trú thì cần Bản sao Giấy ra viện của NLĐ; trường hợp chuyển tuyến KCB trong quá trình điều trị nội trú thì có thêm Bản sao Giấy chuyển tuyến hoặc bản sao Giấy chuyển viện. Đối với trường hợp điều trị ngoại trú thì cần Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH hoặc bản sao Giấy ra viện có chỉ định của y, bác sỹ điều trị cho nghỉ thêm sau thời gian điều trị nội trú.

Lao động nữ sinh con chuẩn bị Bản sao Giấy khai sinh hoặc Trích lục khai sinh hoặc bản sao Giấy chứng sinh của con. Trường hợp con chết sau khi sinh: Bản sao Giấy khai sinh hoặc Trích lục khai sinh hoặc bản sao Giấy chứng sinh của con, bản sao Giấy chứng tử hoặc Trích lục khai tử hoặc bản sao Giấy báo tử của con; trường hợp con chết ngay sau khi sinh mà chưa được cấp Giấy chứng sinh thì thay bằng trích sao hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc Giấy ra viện của người mẹ hoặc của lao động nữ mang thai hộ thể hiện con chết.

Trường hợp người mẹ hoặc lao động nữ mang thai hộ chết sau khi sinh con thì có thêm bản sao Giấy chứng tử hoặc Trích lục khai tử của người mẹ hoặc của lao động nữ mang thai hộ.

Trường hợp người mẹ sau khi sinh hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ sau khi nhận con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con thì có thêm Biên bản GĐYK của người mẹ, người mẹ nhờ mang thai hộ. Trường hợp thanh toán phí GĐYK thì có thêm hóa đơn, chứng từ thu phí giám định; bảng kê các nội dung giám định của cơ sở thực hiện GĐYK.

Trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì có thêm một trong các giấy tờ sau: Trường hợp điều trị nội trú: Bản sao Giấy ra viện hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án thể hiện việc nghỉ dưỡng thai. Trường hợp điều trị ngoại trú: Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH thể hiện việc nghỉ dưỡng thai. Trường hợp phải GĐYK: Biên bản GĐYK. Trường hợp thanh toán phí GĐYK thì có thêm hóa đơn, chứng từ thu phí giám định; bảng kê các nội dung giám định của cơ sở thực hiện GĐYK. Trường hợp lao động nữ mang thai hộ sinh con hoặc người mẹ nhờ mang thai hộ nhận con thì có thêm bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 96 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ; văn bản xác nhận thời điểm giao đứa trẻ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.

Trường hợp NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi: Bản sao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi.

Trường hợp lao động nam hoặc người chồng của lao động nữ mang thai hộ nghỉ việc khi vợ sinh con: Bản sao Giấy chứng sinh hoặc Bản sao giấy khai sinh hoặc Trích lục khai sinh của con; trường hợp sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi mà Giấy chứng sinh không thể hiện thì có thêm giấy tờ của của cơ sở KCB thể hiện việc sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi. Trường hợp con chết ngay sau khi sinh mà chưa được cấp Giấy chứng sinh thì thay bằng trích sao hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ hoặc của lao động nữ mang thai hộ thể hiện con chết.

Lao động nam hoặc người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ hưởng trợ cấp một lần khi vợ sinh con: Bản sao Giấy chứng sinh hoặc bản sao Giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh của con. Trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp Giấy chứng sinh thì thay bằng trích sao hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc bản sao Giấy ra viện của người mẹ hoặc của lao động nữ mang thai hộ thể hiện con chết. Trường hợp lao động nam đồng thời hưởng chế độ do nghỉ việc khi vợ sinh con và hưởng trợ cấp một lần khi vợ sinh con thì tiếp nhận một lần hồ sơ như nêu ở trên.

Để giải quyết chế độ cho NLĐ, đơn vị SDLĐ chuẩn bị Bản chính Danh sách đề nghị giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK (mẫu 01B-HSB).

Trình tự thực hiện:

Bước 1: Lập, nộp hồ sơ

NLĐ hưởng chế độ ốm đau, thai sản: Lập hồ sơ theo quy định tại mục thành phần hồ sơ và nộp cho đơn vị SDLĐ trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc.

Đơn vị SDLĐ: Tiếp nhận hồ sơ từ NLĐ. Đối với hưởng trợ cấp DSPHSK: Thủ trưởng đơn vị SDLĐ phối hợp với Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở căn cứ hồ sơ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ- BNN, tình trạng sức khỏe của NLĐ và quy định của chính sách để quyết định về số NLĐ, số ngày nghỉ DSPHSK sau ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN theo quy định (trường hợp chưa thành lập công đoàn cơ sở thì người sử dụng LĐ quyết định). Lập Danh sách đề nghị giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK (mẫu số 01B-HSB) trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ NLĐ theo quy định (hoặc trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp DSPHSK sau ốm đau, thai sản); nộp cho cơ quan BHXH nơi đơn vị SDLĐ đóng BHXH.

Bước 2: Cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ và giải quyết theo quy định

Bước 3: Nhận kết quả: Đơn vị SDLĐ, NLĐ nhận kết quả giải quyết của cơ quan BHXH.

Cách thức thực hiện:

Nộp hồ sơ: NLĐ nộp hồ sơ trực tiếp cho đơn vị SDLĐ.

Đơn vị SDLĐ nộp hồ sơ cho cơ quan BHXH bằng một trong các hình thức sau: Qua giao dịch điện tử: đơn vị SDLĐ lập hồ sơ điện tử, ký số và gửi lên Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua tổ chức I-VAN; nếu chưa chuyển đổi hồ sơ giấy sang dạng điện tử thì gửi hồ sơ giấy đến cơ quan BHXH qua bưu chính. Qua dịch vụ Bưu chính. Trực tiếp tại cơ quan BHXH.

Nhận kết quả:

Đơn vị SDLĐ: Nhận Danh sách giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK (Mẫu C70a-HD) theo hình thức đã đăng ký (trực tiếp tại cơ quan BHXH hoặc qua bưu chính hoặc qua giao dịch điện tử). Nhận tiền trợ cấp cơ quan BHXH chuyển qua tài khoản của đơn vị để chi trả cho NLĐ đăng ký nhận bằng tiền mặt tại đơn vị SDLĐ.

NLĐ nhận tiền trợ cấp bằng một trong các hình thức sau: Thông qua đơn vị SDLĐ. Thông qua tài khoản cá nhân. Trực tiếp nhận tại cơ quan BHXH trong trường hợp chưa nhận tại đơn vị mà đơn vị đã chuyển lại kinh phí cho cơ quan BHXH. Trường hợp ủy quyền cho người khác lĩnh thay, thực hiện theo quy định tại Dịch vụ công "Ủy quyền lĩnh thay các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp" hoặc bản chính Hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Thời hạn giải quyết: Tối đa 6 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan BHXH nhận đủ hồ sơ theo quy định.

Kết quả giải quyết: Danh sách giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp DSPHSK (Danh sách C70a-HD). Tiền trợ cấp.

Dịch vụ công (DVC) Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp DSPHSK sau ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN sẽ được kết nối, tích hợp để cung cấp trên Cổng DVC ngành BHXH Việt Nam và trên Cổng DVC Quốc gia, áp dụng từ ngày 15-6-2022.

Quốc Diễn

 

 

Các tin khác

Chỉ đạo mới của Thủ tướng về cải cách tiền lương công chức ()

 

Thủ tướng vừa có chỉ đạo mới về việc cải cách tiền lương và dự toán tạo nguồn cải cách tiền lương công chức, viên chức theo Nghị quyết 27-NQ/TW, điều chỉnh lương hưu,...

Đây là nội dung tại Chỉ thị 12/CT-TTg ngày 22/7/2022 về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Cụ thể, về việc cải cách tiền lương và dự toán tạo nguồn cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27-NQ/TW , điều chỉnh lương hưu (phần NSNN đảm bảo), điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công:

Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo cụ thể khả năng cân đối nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27-NQ/TW .

Đồng thời, các bộ, cơ quan trung ương lập dự toán chi tạo nguồn cải cách tiền lương từ tiết kiệm chi thường xuyên, các nguồn thu được để lại và một phần thu sự nghiệp theo quy định.

Riêng các cơ quan, đơn vị hành chính ở Trung ương đang áp dụng cơ chế đặc thù, dự kiến Quỹ lương mới theo cơ chế được cấp thẩm quyền phê duyệt (nếu có) hoặc theo quy định tại Nghị quyết 01/2021/UBTVQH15 và Quyết định 30/2021/QĐ-TTg ; đồng thời báo cáo cụ thể các tác động tăng, giảm so với quỹ lương hiện hành và khả năng cân đối từ các nguồn được để lại.

Các đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục thực hiện các giải pháp tạo nguồn cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27-NQ/TW và Nghị định 60/2021/NĐ-CP, trong đó, phải tự đảm bảo phần tiền lương tăng thêm phù hợp với mức tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên của đơn vị.

Các địa phương tổng hợp, báo cáo dự toán chi tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27-NQ/TW .

Theo Nghị quyết 27-NQ/TW , ban đầu việc cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức dự kiến áp dụng từ năm 2021. Tuy nhiên, do ảnh hưởng Covid-19 nên Trung ương đã quyết định lùi cải cách tiền lương với công chức đến thời điểm thích hợp.

Nguyên Bình biên soạn

 

Các tin khác

QUY ĐỊNH VỀ TẠM TRÚ, LƯU TRÚ TRONG KHU CÔNG NGHIỆP ()

Nghị định 35/2022/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

Theo đó, trong khu công nghiệp không có nơi thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú. Chuyên gia, người lao động được phép tạm trú, lưu trú ở cơ sở lưu trú tại khu công nghiệp để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và thực hiện theo quy định sau đây:

+ Đối với chuyên gia, người lao động là người Việt Nam thì thực hiện tạm trú, lưu trú theo quy định của pháp luật về cư trú;

+ Đối với chuyên gia, người lao động là người nước ngoài thì thực hiện tạm trú theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Hiện hành, tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP quy định trong khu công nghiệp, khu chế xuất không cho phép dân cư sinh sống. Trường hợp cần thiết, người nước ngoài (gồm nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia) được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tuân thủ các điều kiện cụ thể khác.

Nghị định 35/2022/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7/2022.

 Ny Nguyễn (Nguồn: Thư viện pháp luật)

 

Các tin khác

CÔNG ĐOÀN HUYỆN M’ĐRẮK PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO THI ĐUA KỶ NIỆM 93 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM ()

Nhằm lập thành tích chào mừng Kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2022). Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động huyện M'Đrắk đã ban hành Kế hoạch triển khai đến các CĐCS trực thuộc tổ chức các hoạt động thiết thực như: Tọa đàm gặp mặt, hội thao, hội thi, hội diễn văn nghệ, giao lưu bóng chuyền, thăm hỏi tặng quà cho đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn và bị ốm đau…..

Cũng nhân dịp này, Liên đoàn Lao động huyện đã hướng dẫn hồ sơ xét hỗ trợ 01 Nhà Mái ấm công đoàn cho đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn với số tiền 30 triệu đồng, thăm tặng quà cho 05 đoàn viên bị bệnh hiểm nghèo với số tiền 5 triệu đồng. Chỉ đạo các công đoàn cơ sở thăm hỏi tặng trên 40 suất quà, mỗi suất từ 300 – 500 ngàn đồng cho đoàn viên bị bệnh hiểm nghèo, có hoàn cảnh khó khăn….Ngoài ra các công đoàn cơ sở đã phối hợp với chính quyền cùng cấp cử đoàn viên, CNVCNLĐ luyện tập, tham gia các môn thi đấu tại Đại hội thể dục thể thao thuộc 13 xã, thị trấn và cấp huyện năm 2022.

Hình ảnh các CĐCS tổ chức các hoạt động thể thao

Kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam

Đề phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu mà Nghị quyết công đoàn các cấp đề ra. Liên đoàn Lao động huyện đã chỉ đạo công đoàn cơ sở trong thời gian tới cần tiếp tục phát huy vai trò, tổ chức thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:

Tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ tổ chức Công đoàn; các Chỉ thị, Nghị quyết về xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, CNVCLĐ nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch Covid-19; tăng cường công tác phối hợp với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, người sử dụng lao động đề cao vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 nhằm bảo vệ đời sống, việc làm, sức khỏe của đoàn viên, CNVCLĐ.

Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động công đoàn; chú trọng công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở gắn liền với việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn; đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Chăm lo lợi ích cho đoàn viên, người lao động. Nâng cao năng lực đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động, cán bộ Công đoàn; chủ động tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Thực hiện toàn diện và chất lượng công tác nữ công ở các cấp công đoàn, trọng tâm là quyền và việc làm bền vững của lao động nữ; xây dựng gia đình công nhân, viên chức, lao động no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; chăm lo tốt hơn con công nhân, viên chức, lao động.

Nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát công đoàn. Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra Công đoàn, từng bước nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.Tăng cường công tác quản lý thu, chi tài chính, quản lý tài sản công đoàn theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch.

Nguyễn Nga

 

 

 

 

 

 

 

 

Các tin khác

HỖ TRỢ KINH PHÍ XÂY DỰNG NHÀ “MÁI ẤM CÔNG ĐOÀN” NHÂN KỶ NIỆM 93 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM ()

Hưởng ứng đợt cao điểm vận động đoàn viên CNVCLĐ thi đua lập thành tích chào mừng Kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 -28/7/2022). Ngày 25/5/2022, Liên đoàn Lao động huyện Cư M'gar tổ chức bàn giao nhà ở "Mái ấm công đoàn" cho đoàn viên công đoàn có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở.

Thường trực LĐLĐ huyện trao kinh phí hỗ trợ xây nhà

"Mái ấm Công đoàn" cho gia đình đoàn viên Từ Tam Thành.

Căn nhà được bàn giao cho gia đình đoàn viên Từ Tam Thành, đoàn viên công đoàn cơ sở xã Ea M'Nang, huyện Cư M'gar có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nhà được xây dựng tại Thôn 2A, Xã Ea M'Nang, huyện Cư M'gar, diện tích 62 m2, tổng kinh phí xây dựng là 200 triệu đồng. Liên đoàn Lao động huyện trích từ quỹ "Mái ấm công đoàn" năm 2022 hỗ trợ 40 triệu đồng, số còn lại do của gia đình và sự giúp đỡ từ họ hàng, đồng nghiệp.

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập công đoàn Việt Nam, việc hỗ trợ xây dựng nhà ở cho CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn, có ý nghĩa thiết thực của tổ chức Công đoàn quan tâm, chăm lo đời sống cho đoàn viên, giúp gia đình và đoàn viên vượt qua khó khăn yên tâm công tác .

Hoài Bão

 

Các tin khác

LĐLĐ HUYỆN CƯ M’GAR TỔ CHỨC GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆP PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG, LUẬT CÔNG ĐOÀN ()

Ngày 28/7/2022, Nhân kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam. Liên đoàn Lao động huyện Cư M'gar tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật lao động, Luật Công đoàn, tuyên truyền phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở đối với Công ty TNHH xe máy Tân Cường Thịnh, doanh nghiệp ngoài Nhà nước.

Một số hình ảnh buổi làm việc với Ban Giám đốc

công ty TNHH xe máy Tân Cường Thịnh

Thành phần tham dự Đoàn giám sát có đồng chí Y Wem H' Wing, HUV, Phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng đoàn; đ/c Nguyễn Thị Vọng HUV, Chủ tịch LĐLĐ huyện cùng các đồng chí lãnh đạo UBMTTQ huyện, Chi cục Thuế khu vực Cư M'gar- Buôn Đôn, BHXH huyện, Phòng LĐ-TB và XH huyện, và Ban giám đốc Công ty TNHH xe máy Tân Cường Thịnh. Nội dung giám sát việc thực hiện hợp đồng lao động, thực hiện BHXH, BHYT, BHTN thực hiện đóng kinh phí công đoàn theo quy định của pháp luật.

Qua buổi làm việc đoàn đã đánh giá cao việc chấp hành pháp luật lao động của chủ sử dụng lao động đối với 13 lao động của công ty, mức lương, thưởng và các phúc lợi xã hội cao, được người lao động tin tưởng gắn bó, thực hiện tốt nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn 2% hàng năm. Qua giám sát LĐLĐ huyện đã tuyên truyền vận động phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS theo quy định của Luật công đoàn và Điều lệ Công đoàn Việt Nam, đồng thời được lãnh đạo công ty đồng tình nhất trí xây dựng, ký kết Chương trình phúc lợi cho đoàn viên công đoàn, trực thuộc LĐLĐ huyện trong thời gian tới./.    

Hoài Bão

 

 

 

Các tin khác

THƯ CHÚC MỪNG NHÂN KỶ NIỆM 93 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM (28/7/1929-28/7/2022) ()

Kính gửi các thế hệ Cán bộ công đoàn và đoàn viên, công nhân, viên chức lao động tỉnh Đắk Lắk!

Nhân kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2022), thay mặt Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh Đắk Lắk, tôi xin gửi tới toàn thể các thế hệ Cán bộ công đoàn, đoàn viên, người lao động tỉnh Đắk Lắk lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Trải qua 93 năm xây dựng và phát triển, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng lớn mạnh, luôn hoàn thành tốt vai trò là người đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đoàn viên và người lao động, vận động, tập hợp đông đảo đoàn viên, người lao động dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, đồng hành cùng dân tộc, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy truyền thống tốt đẹp đó, công nhân, viên chức lao động  tỉnh Đắk Lắk không ngừng lớn mạnh cả số lượng và chất lượng, trở thành lực lượng quan trọng góp phần phát triền kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh góp phần xây dựng tỉnh Đắk Lắk ngày càng phát triển giàu đẹp, văn minh, bản sắc.

Trong thời gian tới, cán bộ công đoàn các cấp cần năng động, sáng tạo hơn nữa trong hoạt động, tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự phối hợp chắt chẽ với các cấp, các ngành, địa phương, vận động tập hợp đông đảo đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động đoàn kết thi đua, lao động xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ vì sự phát triển của đất nước và tỉnh nhà .

Thay mặt Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh Đắk Lắk, tôi kêu gọi toàn thể Cán bộ công đoàn tỉnh Đắk Lắk phát huy hơn nữa tinh thần chủ động, sáng tạo, nhiệt huyết trong hoạt động để tổ chức công đoàn thực sự là chổ dựa tin cậy của đoàn viên, công nhân, viên chức lao động tỉnh nhà.

Tôi tin rằng, với tinh thần năng động, sáng tạo, đoàn kết, mỗi cán bộ công đoàn, đoàn viên, công nhân viên chức lao động tỉnh Đắk Lắk sẽ ra sức đóng góp thiết thực, hiệu quả đối với phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội X Công đoàn tỉnh, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp nhiệm kỳ 2023-2028.

Một lần nữa thay mặt Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh kính chúc toàn thể các thế hệ Cán bộ công đoàn tỉnh Đắk Lắk mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!

 

                                                             Thân ái

                                                   Nguyễn Công Bảo

                                       UVBCH Tổng Liên Đoàn, Tỉnh ủy viên,

                                              Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Đắk Lắk

 

Các tin khác

HỘI NGHỊ TẬP HUẤN CÔNG TÁC NỮ CÔNG ĐOÀN NĂM 2022 ()

Nhằm trang bị, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng hoạt động nữ công cho đội ngũ cán bộ công đoàn đặc biệt là cán bộ trực tiếp tham mưu chỉ đạo, triển khai công tác nữ công công đoàn; nhằm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của nữ đoàn viên, CNVCLĐ và nhiệm vụ của tổ chức công đoàn trong tình hình mới. Từ ngày 26-27/7/2022, LĐLĐ tỉnh tổ chức Hội nghị tập huấn công tác nữ công công đoàn năm 2022. Dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Nguyễn Thị Lý Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh, các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tài Chính, Ban Tổ chức Kiểm tra, Văn Phòng, Ban Tuyên giáo - Nữ công và 49 học viên là Nữ Giảng viên kiêm chức tại cơ quan LĐLĐ tỉnh; cán bộ, chuyên viên phụ trách công tác nữ công và phụ trách công tác đào tạo bồi dưỡng LĐLĐ tỉnh, lãnh đạo CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở phụ trách công tác nữ công; Trưởng ban, Phó Trưởng ban nữ công quần chúng, Chủ tịch CĐCS tại doanh nghiệp có đông lao động nữ.

Toàn cảnh hội nghị

Các cán bộ nữ công được các Báo cáo viên, Giảng viên kiêm chức LĐLĐ tỉnh truyền đạt các chuyên đề về hoạt động nữ công, các quy định tài chính công đoàn đối với hoạt động nữ công, chuyên đề kiểm tra, giám sát của tổ chức Công đoàn đối với công tác nữ công, Chính sách Pháp luật đối với lao động nữ. Tại hội nghị LĐLĐ tỉnh đã tổ chức Hội thảo với chủ đề " Đổi  mới tổ chức và hoạt động nữ công" qua đó nhìn nhận thực trạng hoạt động nữ công tại địa phương, đơn vị, cách làm hay, hiệu quả về công tác nữ công tại cơ sở; kiến nghị nội dung cần đổi mới trong tổ chức và hoạt động nữ công. Một số mô hình hay, cách làm hiệu quả, sáng tạo, kinh nghiệm hết sức thiết thực, ý nghĩa triển khai thực tế ngay tại các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp cũng được các học viên trao đổi, chia sẻ như: Công đoàn Viên chức tỉnh với kinh nghiệm: "Tăng cường công tác phối hợp để hỗ trợ nội dung, huy động nguồn lực tổ chức hoạt động nữ công tại CĐ Viên chức tỉnh"; LĐLĐ huyện Ea Kar trao đổi với nội dung "Vai trò của Ban Nữ công LĐLĐ huyện trong công tác tham mưu, tổ chức hiệu quả hoạt động nữ công"; LĐLĐ Cư M'Gar trao đổi với nội dung "công tác triển khai hiệu quả công tác nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng và hoạt động nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần đối với nữ Cán bộ công đoàn, CNVCLĐ"; CĐCS Công ty cổ phần cao su Đắk Lắk với nội dung "Phát huy vai trò của CĐCS trong đảm bảo quyền của lao động nữ tại doanh nghiệp"; Ban Nữ công CĐCS Trường Mầm non Hoa Việt Nguyên chủ động đề xuất với Ban Giám đốc doanh nghiệp hỗ trợ đoàn viên nữ khó khăn, nuôi con nhỏ, các chế độ chính sách trong thời gian người lao động nghỉ việc bởi dịch Covid-19 ... Ngoài chia sẻ những kinh nghiệm, cách làm hay, mô hình hoạt động nữ công hiệu quả tại cơ sở, các đơn vị cũng kiến nghị, đề xuất, nêu lên những khó khăn, hạn chế công tác nữ công đã và đang gặp phải cần được các cấp công đoàn xem xét, giải quyết....

Đồng chí Nguyễn Thị Lý, Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh chủ trì Hội thảo Đổi mới tổ chức và hoạt động nữ công

Đồng chí Trương Hồ Anh Hoàng, BCV LĐLĐ tỉnh báo cáo chuyên đề quy định tài chính công đoàn trong hoạt động nữ công

Đồng chí Nguyễn Hưng, BCV LĐLĐ tỉnh báo cáo chuyên đề công tác kiểm tra, giám sát của công đoàn đối với công tác nữ công

Tại hội nghị các học viên được thực hành Chương trình sinh hoạt chuyên đề Phụ nữ với sức khỏe và sắc đẹp, được chuyên gia  tư vấn về chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp hết sức ý nghĩa và thiết thực, giúp chị em hiểu biết về kỹ năng làm đẹp, chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình. Thực hành Hội thi " Tìm hiểu chính sách pháp luật đối với lao động nữ".

Chuyên gia Nguyễn Thị Ngọc Nữ, tư vấn chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp tại Sinh hoạt chuyên đề Phụ nữ với sức khỏe và sắc đẹp

Các học viên tham gia thực hành Hội thi " Tìm hiểu chính sách pháp luật đối với lao động nữ" do các Tổ thực hành

 

Kết thúc Hội nghị các học viên được Ban Tổ chức hội nghị trao Giấy chứng nhận hoàn thành lớp tập huấn. Qua tập huấn đã góp phần giúp đội ngũ cán bộ nữ công nắm vững kiến thức cơ bản về nghiệp vụ công tác nữ công, các kỹ năng, phương pháp tổ chức các hoạt động, phong trào trong nữ CNVCLĐ để triển khai thực hiện hiệu quả tại địa phương, cơ quan, đơn vị. 

Ban tổ chức trao giấy Chứng nhận hoàn thành Chương trình tập huấn cho học viên

Nhân kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/2022) LĐLĐ tỉnh và nhà tài trợ Ngọc Spa đã tặng hoa, quà cho các học viên trong dịp này.

 

Cán bộ công đoàn cắt bánh sinh Nhật chào mừng 93 năm

Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam

 

Thủy Nguyễn

 

         

 

Các tin khác

HỘI THAO CÔNG ĐOÀN NGÀNH CÔNG THƯƠNG LẦN THỨ 13 THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP ()

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/2022), từ ngày 21 đến 23/7, Công đoàn ngành Công thương đã tổ chức Hội thao công nhân viên chức, lao động lần thứ XIII, năm 2022.

Tham dự Hội thao có trên 400 vận động viên đến từ 22 CĐCS, đại diện cho trên 3.500 đoàn viên, CNVCLĐ trong toàn ngành thi đấu tranh tài các môn: Bóng đá nam 05 người, cầu lông, bóng bàn, cờ tướng, nhảy bao bố, kéo co và tennis.

Những năm qua, trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, Công đoàn ngành Công thương không chỉ tập trung chỉ đạo các CĐCS phối hợp tốt với chuyên môn, đồng hành cùng doanh nghiệp ổn đinh việc làm, thu nhập, chăm lo đời sống vật chất cho đoàn viên, CNVCLĐ, mà còn chú trọng nâng cao đời sống tinh thần, sức khoẻ và thể lực, tạo không khí vui tươi, phấn khởi để đoàn viên, CNVCLĐ thi đua lao động, làm việc đạt năng xuất, chất lượng và hiệu quả tốt hơn. Đây cũng là hình thức hiệu quả để tuyên truyền, nâng cao hình ảnh của tổ chức Công đoàn, tạo ảnh hưởng, sức lan tỏa trong xã hội, thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao trong đoàn viên, CNVCLĐ và các cấp công đoàn. Đồng thời cũng là một trong những hoạt động thiết thực xây dựng đời sống văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục, thể thao của công chức, viên chức, công nhân lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp giai đoạn 2021-2026 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, theo Chương trình phối hợp số 2862/CTPH-BVHTTDL-TLĐLĐVN, ngày 13/10/2021 của Bộ VH-TT&DL và Tổng LĐLĐ Việt Nam".

Sau 3 ngày thi đấu nhiệt tình, sôi nổi, Hội thao Công đoàn ngành Công thương lần thứ XIII đã thành công tốt đẹp, Ban Tổ chức Hội thao đã trao các giải Nhất, Nhì, Ba và Huy chương Vàng, Bạc, Đồng cho các vận động viên thi đấu xuất sắc theo từng nội dung.

 

Một số hình ảnh trao giải thưởng cho các tập thể,

cá nhân thi đấu xuất sắc các bộ môn tại Hội thao

Nguyên Bình

                                                           

 

Các tin khác

HƠN 1.823 DOÀN VIÊN, NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐƯỢC VAY SỐ TIỀN 9 TỶ 340 TRIỆU ĐỒNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ()

Ngày 21 tháng 7, tại huyện Ea H'Leo, Cụm thi đua số 3 thuộc LĐLĐ tỉnh đã tổ chức Hội nghị sơ kết phong trào thi đua 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2022. Dự, chỉ đạo Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Thị Lý, Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh; Bàn Tuần Minh – Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện; đại diện các ban chuyên đề LĐLĐ tỉnh, các đồng chí Chủ tịch, Phó Chủ tịch, cán bộ công đoàn chuyên trách 7 đơn vị trực thuộc Cụm thi đua số 3.

Cụm thi đua số 3 có LĐLĐ các huyện, thị xã gồm: Ea H'Leo, Krông Năng, Krông Buk, Krông Păk, Ea Kar, M'Drắk và thị xã Buôn Hồ hiện có 661 CĐCS trực thuộc, trong đó 577 CĐCS đơn vị hành chính sự nghiệp công lập, 84 CĐCS doanh nghiệp và sự nghiệp ngoài công lập; với tổng số 21.476 đoàn viên, trong đó có 12.940 đoàn viên nữ, 3095 đoàn viên người dân tộc thiểu số.

Các đại biểu tham dự Hội nghị

6 tháng đầu năm tình hình việc làm của người lao động ở các doanh nghiệp không ổn định, phần lớn là việc làm thời vụ. Bên cạnh đó, do giá cả thị trường có nhiều biến động, nhiều mặt hàng phục vụ cho sản xuất tăng, đầu ra cho sản phẩm lại giảm đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người lao động và hoạt động của doanh nghiệp. Mức tiền lương, tiền công bình quân trong khu vực hành chính sự nghiệp hơn 5,2 triệu đồng/người/tháng, trong khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước gần 4,5 triệu đồng/người/tháng. Công tác chăm lo đời sống cho đoàn viên và người lao động được quan tâm đúng mức, các đơn vị trong cụm thi đua thường xuyên chỉ đạo Công đoàn cơ sở tăng cường công tác phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách, tiền lương, thưởng cho đoàn viên, người lao động. Trong dịp Tết nguyên đán 100% đoàn viên, người lao động thuộc diện khó khăn, ốm đau dài ngày, bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid -19 được thăm, tặng quà, với tổng trị giá hơn 500 triệu đồng; 1.100 Túi an sinh công đoàn số tiền 220 triệu đồng; các công đoàn cơ sở tặng 833 suất quà, trị giá hơn 1 tỷ 167 triệu đồng; thăm hỏi, tặng quà cho hơn 1.000 đoàn viên nhiễm COVID -19 giai đoạn cao điểm của dịch bệnh.

Đ/c Trương Hồ Anh Hoàng, UV Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tài chính LĐLĐ tỉnh

phát biểu một số nội dung liên quan đến công tác tài chính công đoàn

Trong 6 tháng, các đơn vị trong cụm thi đua đã vận động xây dựng Quỹ Mái ấm công đoàn đạt trên 80% kế hoạch, hỗ trợ sửa chữa và xây mới 20 căn nhà cho gia đình đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở. Các công đoàn cơ sở trong cụm đã vận động Quỹ đoàn kết tương trợ được gần 9 tỷ 340 triệu đồng, giải quyết cho 1.823 trường hợp vay vốn phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống. Thực hiện tháng công nhân năm 2022, Liên đoàn Lao động các huyện, thị xã trong cụm đã thăm hỏi, động viên và trao 134 suất quà, trị giá 86,5 triệu đồng cho đoàn viên công đoàn, người lao động bị tai nạn lao động và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; công đoàn cơ sở tặng quà cho 738 đoàn viên, người lao động, tổng trị giá gần 113 triệu đồng; LĐLĐ tỉnh tặng 26 suất quà trị giá 27,5 triệu đồng cho đoàn viên trong cụm thi đua số 3.

Đ/c Lê Phước Dũng, UV Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh tham gia ý kiến tại Hội nghị

Ngoài ra, LĐLĐ trong cụm tích cực tuyên truyền, vận động đoàn viên chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, phòng, chống dịch COVID -19. Công tác nữ công được chú trọng, các phong trào "vì sự tiến bộ của phụ nữ", "giỏi việc nước đảm việc nhà" được triển khai liên tục và đạt kết quả cao.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh Nguyễn Thị Lý ghi nhận, biểu dương kết quả các đơn vị trong Cụm thi đua số 3 đạt được 6 tháng đầu năm 2022, chỉ đạo một số nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm các đơn vị trong cụm thi đua số 3 tập trung triển khai: Tiếp tục làm tốt công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên và người lao động; vận động đóng góp quỹ "Mái ấm công đoàn đạt 100% kế hoạch; xây dựng kế hoạch Đại hội công đoàn các cấp nhiệm kỳ 2023 - 2028; làm tốt công tác phát triển đoàn viên; thu tài chính; công tác kiểm tra, giám sát, hoạt động nữ công công đoàn...

Quang Minh

 

         

 

 

Các tin khác

z3594683145811_c5c5a7c25723b7f86b834d3d79bbcd73.jpg ()

Các tin khác

Đề cương tuyên truyền 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2022) ()

I. KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CÔNG HỘI ĐỎ - TIỀN THÂN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1. Sự ra đời của của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX. Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân; duy trì nền kinh tế lạc hậu dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Sau khi cuộc xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra cả nước. Các nhà máy rượu bia, vải sợi, điện nước, ngành đường sắt, hầm mỏ, đồn điền cao su, cà phê...lần lượt ra đời và cùng với đó đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên được hình thành. Họ là những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công bị phá sản buộc phải vào làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp. Theo số liệu thống kê trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tổng số công nhân của Việt Nam khoảng trên 10 vạn người, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Sài Gòn - Chợ Lớn, Hải Phòng và vùng mỏ Quảng Ninh...

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để bù đắp những tổn thất, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước. Chúng tăng cường đầu tư vào các ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế biến, dệt may...nhằm tăng cường vơ vét và bóc lột ở các nước thuộc địa. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng lên đến trên 22 vạn người vào đầu năm 1929.

Dưới sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức tập hợp nhau lại đấu tranh đòi quyền lợi, dẫn đến hình thành các Hội Ái hữu, Hội Tương tế trong các nhà máy, xí nghiệp. Cuối năm 1920, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập Công hội Ba Son ở Sài Gòn, mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.

2. Sự ra đời của Công hội đỏ Bắc Kỳ - tiền thân của Công đoàn Việt Nam ngày nay

Quá trình hình thành và phát triển của Công hội đỏ Bắc Kỳ gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XX. Người đã tham gia Công đoàn hải ngoại Anh khi hoạt động tại Luân Đôn trong những năm 1914 - 1917; gia nhập Công đoàn Kim khí quận 17 Pari vào năm 1919. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong tác phẩm "Đường Kách mệnh", Người chỉ dẫn: "Công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới". Tháng 6/1925, Người sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu - Trung Quốc và trực tiếp giảng dạy nhằm nâng cao lý luận chính trị cho học viên.

Những năm 1925 - 1928, dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào "Vô sản hóa" đã thâm nhập sâu rộng vào trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm lò để tuyên truyền, vận động công nhân tích cực tham gia phong trào đấu tranh. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên (3/1929), đặc biệt là sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929) là kết quả của quá trình vận động, tổ chức công nhân mà Nguyễn Đức Cảnh là một trong những sáng lập viên và giữ vai trò quan trọng. Trên cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, Nguyễn Đức Cảnh được Trung ương lâm thời phân công phụ trách công tác vận động công nhân.

Nhận thức được vai trò quan trọng của tổ chức Công hội, của công nhân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, bóc lột, bảo vệ quyền lợi của công nhân, Nguyễn Đức Cảnh và những người đồng chí đã tích cực tổ chức cuộc vận động phong trào công nhân, trước hết là phong trào công nhân Bắc Kỳ để thành lập tổ chức Công hội. Ngày 28/7/1929, Đại hội đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất khai mạc do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh chủ trì. Đại hội đã quyết định thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, thông qua Điều lệ và hệ thống tổ chức của Công hội, ra báo "Lao động" và tạp chí "Công hội Đỏ", bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh làm Hội trưởng. Sự kiện thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ là mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Kể từ đây, GCCN Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, đứng ra dẫn dắt phong trào.

II. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN QUA CÁC THỜI KỲ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tổng Công hội Đỏ đã tập hợp lực lượng thợ thuyền, đội quân chủ lực của cách mạng Việt Nam, tạo nên cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931. Cuối năm 1931, phong trào đấu tranh của GCCN Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp dã man, hầu hết số cán bộ Đảng và Công hội Đỏ đều bị địch bắt, khiến cho mối liên lạc giữa Đảng và quần chúng, giữa Công hội Đỏ và phong trào công nhân gần như bị gián đoạn. Trong điều kiện đó, bất chấp sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, Công hội Đỏ vẫn tích cực tuyên truyền, vận động công nhân, phát triển tổ chức. Từ năm 1932-1936, phong trào cách mạng trong cả nước bắt đầu phục hồi.

Từ năm 1936-1939, tổ chức Công hội Đỏ đổi tên thành Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu chuyển sang thời kỳ hoạt động bán công khai. Nhờ sự tổ chức linh hoạt, thích hợp với tình hình, phong trào công nhân giai đoạn này vẫn phát triển mạnh mẽ lên đỉnh điểm mới. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đầu hàng và thỏa hiệp với phát xít Nhật thẳng tay đàn áp phong trào dân chủ chống chiến tranh của nhân dân ta, thủ tiêu các quyền tự do nghiệp đoàn. Trước tình hình đó, tổ chức Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu phải rút vào hoạt động bí mật và lấy tên là "Hội công nhân phản đế", năm 1941 đổi thành "Hội Công nhân cứu quốc" làm nòng cốt cho hoạt động của tổ chức Việt Minh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam thực sự là trung tâm đoàn kết của công nhân lao động Việt Nam. Với trên 20 vạn người trong năm 1945, các đoàn viên Công đoàn trở thành lực lượng nòng cốt làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 3/1946, Hội nghị đại biểu Công nhân cứu quốc Bắc Bộ, Trung Bộ và Tổng Công đoàn Nam Bộ đã quyết định thống nhất về mặt tổ chức trên phạm vi cả nước thành "Hội Công nhân cứu quốc". Tháng 6/1946, tại Hội nghị cán bộ Công đoàn cứu quốc đã đổi tên "Hội Công nhân cứu quốc" thành "Công đoàn". Ngày 20/7/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam" đã chính thức được thành lập và được công nhận là thành viên chính thức của Liên hiệp Công đoàn thế giới vào năm 1949.

Trong những năm đầu đất nước giành độc lập, tổ chức Công đoàn và GCCN Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, tham gia tích cực vào cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, các đội cảm tử Thủ đô, trong đó nòng cốt là công nhân đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, anh dũng.

Thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) tập trung xây dựng nhà máy, công xưởng, sản xuất vũ khí, khí tài quân sự; khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua lao động phục vụ kháng chiến. Tại chiến khu Việt Bắc, từ ngày 01-15/01/1950, Đại hội lần I Công đoàn Việt Nam đã khẳng định mục tiêu: "Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất là công nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi".Tại Đại hội này, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch.

Tháng 2/1951, Đại hội lần thứ II của Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế phục vụ tổng phản công, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng, Công đoàn vận động công nhân hăng hái sản xuất và tham gia quản lý, xây dựng xí nghiệp. Đây là bước chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng và phương thức hoạt động Công đoàn. Từ đây trong các xí nghiệp quốc doanh, Công đoàn đại diện cho công nhân tham gia các Ủy ban xí nghiệp, góp phần trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, đưa nền kinh tế kháng chiến phát triển về mọi mặt. Ở vùng tự do, Công đoàn phát động công nhân "Thi đua sản xuất, thi đua xây dựng", "Cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, trau dồi nghề nghiệp". Phong trào được tổ chức, chỉ đạo tương đối chặt chẽ, thực hiện dân chủ trong quản lý sản xuất.

Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò tiên phong của GCCN vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, đấu tranh kiên cường, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954- 1975)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ.

Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là "Cần phải động viên, tổ chức đông đảo quần chúng lao động trong các đô thị thành một lực lượng mạnh mẽ làm chỗ dựa tốt nhất, chắc chắn nhất cho chính quyền tiến hành công tác tiếp thu, phục hồi sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự thành phố".

Ở miền Bắc tiến hành công cuộc tái thiết đất nước, khó khăn tiếp tục đặt lên vai người công nhân. Với trách nhiệm chủ nhân của đất nước, đội ngũ CNVCLĐ đã đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhờ vậy chỉ trong thời gian ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã phục hồi. Qua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những điển hình trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như "Sóng Duyên Hải", "Hợp tác xã Thành Công", "Ba quyết tâm"…đã xuất hiện nhiều CNVCLĐ tiêu biểu được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động sản xuất và chiến đấu.

Ở miền Nam, phong trào công nhân, Công đoàn hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho công nhân đấu tranh.

Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò lãnh đạo của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, thành quả đó có đóng góp quan trọng của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Trước những yêu cầu mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23-27/2/1961đã quyết định đổi tên "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam" thành "Tổng Công đoàn Việt Nam". Đại hội đã đề ra mục tiêu: "Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao động sản xuất, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với tinh thần mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà"; đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 11-14/2/1974 tại Hà Nội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội là "Các cấp Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ và tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".

Tổng Công đoàn Việt Nam tham gia xây dựng một số chế độ, chính sách bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền lương, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành phố đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với CNVCLĐ. Nhiều Công đoàn cơ sở đã kịp thời động viên CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao. Việc thực hiện quy tắc an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được thực hiện tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.

Năm 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập đã không ngừng củng cố và phát triển, vừa tổ chức cho CNVCLĐ các thành phố đấu tranh, vừa động viên CNVCLĐ vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã vận động CNVCLĐ ở các đô thị đồng loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

4. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội (1975 - 1986)

Đầu năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, đã tạo điều kiện cơ bản để thống nhất tổ chức Công đoàn trên phạm vi cả nước.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976 Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào chuẩn bị các điều kiện cho việc thống nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền Nam, Bắc thành "Tổng Công đoàn Việt Nam".

Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 08-11/5/1978 đã nêu rõ mục tiêu: "Động viên GCCN và những người lao động khác thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước"; đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ tịch.

Những năm 1981-1982, Công đoàn đã tiến hành nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong công nhân, viên chức về tình hình và nhiệm vụ của đất nước, về chủ trương, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều cố gắng trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ; đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao; công tác báo chí, xuất bản của Công đoàn đã có những tiến bộ mới.

Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam tiến hành từ ngày 16-18/11/1983 đã khẳng định mục tiêu: "Động viên công nhân, lao động thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng, là phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu", Đại hội đã Quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Chủ tịch.

Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến tích cực, nhiều điển hình tiên tiến và nhân tố mới đã hình thành, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác phát triển đoàn viên được Công đoàn chú trọng, số đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, Công đoàn còn tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề nghị Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp khó khăn…Các chế độ nghỉ ngơi, tham quan du lịch và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được duy trì, phát triển.

Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.

5. Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2022)

Trong tình hình đất nước tiến hành đối mới, từng bước hội nhập, Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam họp từ ngày17-20/10/1988 tại Hà Nội đã xác định mục tiêu: "Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội". Đại hội Quyết định đổi tên "Tổng Công đoàn Việt Nam" thành "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam"; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), đưa đất nước ta dần thoát khỏi khó khăn, ổn định đời sống nhân dân và CNVCLĐ.

Đại hội lần thứ VII Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 09-12/11/1993 tại Hà Nội đã nhấn mạnh yêu cầu "Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích công nhân lao động"; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ VIII Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 03-06/11/1998 nhấn mạnh "Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh"; đồng chí Cù Thị Hậu được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 10-13/10/2003, đồng chí Cù Thị Hậu tiếp tục được bầu lại làm Chủ tịch, Đại hội đã khẳng định "Xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Đại hội lần thứ X Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 02-05/11/2008 đã xác định mục tiêu: "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn các cấp, hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, CNVCLĐ làm đối tượng vận động, chuyển mạnh hoạt động Công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước"; đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch.

Nhiệm kỳ lần thứ X của Công đoàn Việt Nam hoạt động trong bối cảnh GCCN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về xây dựng GCCN, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu CNVCLĐ trong cả nước. Những hoạt động triển khai thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Công đoàn đã tạo được chuyển biến trong cả nhiệm kỳ hoạt động, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên và người lao động.

Đại hội lần thứ XI Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 27-30/7/2013 đã xác định phương châm hành động, đó là "Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn"; đồng chí Đặng Ngọc Tùng tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ XII Công đoàn Việt Nam diễn ra từ ngày 24-26/9/2018, đồng chí Bùi Văn Cường được bầu làm Chủ tịch. Đại hội đã xác định 09 nhóm chỉ tiêu, 09 nhiệm vụ tổng quát và 03 khâu đột phá trong cả nhiệm kỳ, ngoài ra còn có 01 chương trình trọng tâm "Công đoàn Việt Nam đồng hành cùng Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển bền vững đất nước".

Ngày 21/7/2019, đồng chí Nguyễn Đình Khang - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam được Bộ Chính trị điều động, chỉ định giữ chức vụ Bí thư Đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; tại kỳ họp thứ Tư Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XII họp từ ngày 28 đến ngày 29/7/2019, đồng chí Nguyễn Đình Khang được Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bầu giữ chức vụ Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XII, nhiệm kỳ 2018-2023.

Có thể khẳng định rằng, trong công cuộc đổi mới đất nước, trải qua 12 kỳ Đại hội Công đoàn Việt Nam, GCCN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Những bài học kinh nghiệm

(1) Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi trong hoạt động Công đoàn Việt Nam. Bám sát thực tiễn, tổ chức thực hiện sáng tạo chủ trương của Đảng, đồng thời chủ động nghiên cứu, tham mưu kịp thời định hướng phát triển phong trào công nhân và hoạt động công đoàn; phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, hình thành sức mạnh tổng hợp trong hoạt động công đoàn.

(2) Quan tâm chăm lo lợi ích chính đáng của đoàn viên, lấy lợi ích là điểm quan trọng tập hợp, thu hút người lao động đến với tổ chức Công đoàn; tạo sự khác biệt rõ hơn những quyền, lợi ích của người lao động là đoàn viên công đoàn và chưa là đoàn viên công đoàn để tăng cường sự gắn kết giữa đoàn viên với tổ chức Công đoàn.

(3) Thực hiện tốt vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động. Tiến hành đồng bộ cả ba khâu: Tham gia xây dựng, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát chế độ, chính sách với sự phân công trách nhiệm của từng cấp công đoàn, đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho người lao động.

(4) Chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn, kịp thời thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thực tế. Coi trọng chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy nhu cầu hợp pháp, chính đáng của số đông đoàn viên, người lao động làm nền tảng cho hoạt động công đoàn, phát huy tính tự giác, tự nguyện gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn của đoàn viên, người lao động.

(5) Chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn trong tình hình mới. Thường xuyên quan tâm, đầu tư công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn một cách cơ bản, có chiều sâu, tính lâu dài; thực hiện chính sách động viên hợp lý về vật chất, tinh thần; bảo vệ hiệu quả quyền lợi hợp pháp của cán bộ công đoàn.

2. Nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay

(1) Phát triển đa dạng, hiệu quả các hoạt động chăm lo lợi ích cho đoàn viên, người lao động. Đổi mới cơ chế hoạt động xã hội của Công đoàn theo hướng góp phần đảm bảo quyền an sinh xã hội. Nâng cao năng lực đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động, cán bộ Công đoàn; chủ động tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

(2) Tiến hành thường xuyên, đồng bộ, chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động cho người lao động. Chủ động thông tin về tổ chức và hoạt động Công đoàn, chú trọng công tác định hướng thông tin trên Internet và mạng xã hội. Tham gia xây dựng môi trường văn hóa tích cực trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu công nghiệp; đời sống tinh thần lành mạnh cho người lao động. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền đồng cấp về những vấn đề mới, diễn biến mới trong phong trào công nhân, viên chức, lao động và tổ chức công đoàn.

(3) Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động công đoàn; chú trọng công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở gắn liền với việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn; đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

(4) Nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng cho phù hợp với điều kiện sống, làm việc, công tác của cán bộ, CNVCLĐ. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các mô hình, điển hình mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao.

(5) Thực hiện toàn diện và chất lượng công tác nữ công ở các cấp công đoàn, trọng tâm là quyền và việc làm bền vững của lao động nữ; xây dựng gia đình công nhân, viên chức, lao động no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; chăm lo tốt hơn con công nhân, viên chức, lao động.

(6) Chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế và khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam; phát huy hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế hỗ trợ cho hoạt động công đoàn.

(7) Nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát công đoàn. Kiện toàn ủy ban kiểm tra và văn phòng ủy ban kiểm tra Công đoàn các cấp, từng bước nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

(8) Tăng cường công tác quản lý thu, chi tài chính, quản lý tài sản công đoàn theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, thực hiện phân phối công bằng, hiệu quả; xây dựng nguồn lực đủ mạnh để đáp ứng nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới.

(9) Đổi mới phương thức chỉ đạo và tổ chức thực hiện theo hướng lấy người lao động làm trung tâm; hoạt động chủ yếu ở cơ sở; công đoàn cấp trên phục vụ công đoàn cấp dưới; phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh. Đẩy mạnh cải cách hành chính; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

(10) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, CNVCLĐ nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch Covid-19; tăng cường công tác phối hợp với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, người sử dụng lao động đề cao vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 nhằm bảo vệ đời sống, việc làm, sức khỏe của đoàn viên, CNVCLĐ.

Kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam là dịp để cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ cùng nhân dân cả nước ôn lại, phát huy truyền thống vẻ vang của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam; ra sức thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

                                                                                                                                           Ngô Liễu

 

Các tin khác

HỘI THẢO MÔ HÌNH ĐIỂM VỀ CHĂM LO CHO LAO ĐỘNG NỮ THÔNG QUA ĐỐI THOẠI ()

Sáng 19/7, tại Công ty cổ phần Cao su Đắk Lắk, Ban Nữ công - Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam và LĐLĐ tỉnh đã phối hợp tổ chức Hội thảo tìm hiểu về mô hình điển hình chăm lo cho lao động nữ thông qua đối thoại tại nơi làm việc.

Tham dự Hội thảo có các đồng chí: Đỗ Hồng Vân, UV Ban Chấp hành, Quyền Trưởng Ban Nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam; Nguyễn Thị Lý, Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh; đại diện Thường trực, Trưởng Ban Nữ công LĐLĐ thành phố Buôn Ma Thuột, Công đoàn ngành Nông nghiệp và PTNT, Công thương, CĐCS Công ty cổ phần Cao su Đắk Lắk.

Đ/c Đỗ Hồng Vân, UV BCH, Quyền Trưởng Ban Nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam

phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo

 

Phát biểu tại Hội thảo, đồng chí Đỗ Hồng Vân, UV Ban Chấp hành, Quyền Trưởng Ban Nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam nhấn mạnh: Lực lượng lao động nữ hiện nay chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng thể lực lượng lao động của cả nước ở tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực, lao động nữ đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, lao động nữ hiện nay đã và đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là lực lượng lao động nữ tại các khu, cụm công nghiệp, các ngành cao su, xây dựng, giao thông cầu đường...cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang tác động lớn đến người lao động, lao động nữ phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm, giảm thu nhập. Điều này đòi hỏi người lao động phải nâng cao tay nghề, trình độ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc. Đồng thời, tổ chức công đoàn cũng cần có những biện pháp hữu hiệu hỗ trợ người lao động rèn luyện, nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng tay nghề cũng như đàm phán với người sử dụng lao động có những chính sách hỗ trợ cho lao động nữ.

Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh Nguyễn Thị Lý,

phát biểu khái quát tình hình lao động nữ trên địa bàn Đắk Lắk

Tại Hội thảo, các đại biểu đã được tìm hiểu mô hình điển hình chăm lo cho lao động nữ thông qua đối thoại tại nơi làm việc của CĐCS Công ty Cổ phần Cao su Đắk Lắk.

Các đại biểu dự Hội thảo

Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đã thảo luận, trao đổi các nội dung: thực trạng thực hiện quyền của lao động nữ trong doanh nghiệp hiện nay; những chính sách doanh nghiệp đang áp dụng nhằm chăm lo tốt hơn quyền của lao động nữ; vai trò của ban nữ công quần chúng và CĐCS, công đoàn cấp trên cơ sở trong quá trình đối thoại với người sử dụng lao động; những nội dung công đoàn đưa ra đối thoại với người sử dụng lao động nhằm cải thiện và chăm lo tốt hơn cho lao động nữ tại đơn vị; các bước tiến hành đối thoại; những kinh nghiệm, cách làm hay trong quá trình đối thoại, đàm phán…

Đ/c Phan Thị Ngọc Linh, Phó Chủ tịch, Trưởng ban Nữ công

CĐCS Công ty cổ phần Cao su Đắk Lắk trình bày tham luận kinh nghiệm

CĐCS tham gia đối thoại tại nơi làm việc

Thông qua Hội thảo, Ban Nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam nắm bắt, đánh giá vai trò của ban nữ công quần chúng và CĐCS trong công tác chăm lo, bảo vệ quyền của lao động nữ; thực trạng thực hiện chế độ, chính sách cho lao động nữ tại các đơn vị; những nội dung, cách làm hay, hiệu quả và khó khăn khi công đoàn đối thoại với người sử dụng lao động. Qua đó, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với lao động nữ và xây dựng, nhân rộng mô hình điểm chăm lo, bảo vệ quyền cho lao động nữ, nâng cao vị thế của công đoàn tại đơn vị, doanh nghiệp.

Đc/ Lê Anh Hùng. Chủ tịch CĐ ngành NNPTNT tham ý kiến tại Hội thảo

Quốc Diễn-Đại Nam

 

Các tin khác

Thể lệ cuộc thi trực tuyến tìm hiểu kiến thức pháp luật năm 2020 (08/09/2020)

Thực hiện Kế hoạch số 3140/KH-UBND ngày 13/4/2020 của UBND tỉnh về tổ chức Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu kiến thức pháp luật năm 2020; căn cứ Quyết định số 970/QĐ-UBND ngày 08/05/2020 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban Tổ chức, Tổ Thư ký Cuộc thi, Ban Tổ chức Cuộc thi quy định Thể lệ Cuộc thi như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG DỰ THI

- Cán bộ, chiến sĩ của lực lượng vũ trang, công chức, viên chức, người lao động đang làm việc, công tác tại các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

- Học sinh các trường Trung học phổ thông, Trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh.

- Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện và tuyên truyền viên pháp luật cấp xã.

(Trừ thành viên Ban Tổ chức, Tổ Thư ký Cuộc thi; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc Sở Tư pháp; cán bộ phụ trách kỹ thuật của hệ thống phần mềm Cuộc thi).

II. NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ THỜI GIAN THI

1. Nội dung thi

Trả lời các câu hỏi tìm hiểu các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng, về lao động; tập trung vào các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Bộ luật Lao động năm 2019… và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, cụ thể như sau:

- Đợt 1: Thi tìm hiểu kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

- Đợt 2: Thi tìm hiểu kiến thức pháp luật về lao động.

2. Hình thức thi

Cuộc thi được tổ chức theo hình thức thi trắc nghiệm trực tuyến trên mạng Internet.

3. Thời gian thi

Thời gian thi cụ thể của mỗi đợt thi (thời gian bắt đầu và kết thúc mỗi đợt thi) như sau:

- Đợt 1: Từ ngày phát động Cuộc thi đến hết ngày 31/7/2020.

- Đợt 2: Từ ngày 01/9 đến hết ngày 30/9/2020.

Nếu có thay đổi về thời gian thi, Ban Tổ chức Cuộc thi sẽ thông báo trên website Cuộc thi (http://thitimhieuphapluat.daklak.gov.vn), Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp (http://sotuphap.daklak.gov.vn), Báo Đắk Lắk, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Đắk Lắk.

III. CÁCH THỨC ĐĂNG KÝ DỰ THI VÀ CÁCH THỨC THI

1. Cách thức đăng ký dự thi

- Thí sinh thi trực tiếp trên máy vi tính hoặc các thiết bị điện tử khác có kết nối Internet (máy tính bảng, điện thoại thông minh…).

- Để đăng ký dự thi, thí sinh truy cập vào website Cuộc thi tại địa chỉ: http://thitimhieuphapluat.daklak.gov.vn, vào mục "Hướng dẫn" để biết cách thức đăng ký dự thi; hoàn thành việc cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin theo hướng dẫn tại website.

- Mỗi thí sinh chỉ được đăng ký, sử dụng duy nhất 01 tài khoản dự thi.

- Thông tin thí sinh dự thi đăng ký sẽ là căn cứ để Ban Tổ chức Cuộc thi xét và trao giải.

- Ban Tổ chức Cuộc thi sẽ không công nhận kết quả đối với thí sinh dự thi có bất kỳ thông tin đăng ký nào sai lệch với thực tế (so với Giấy khai sinh hoặc Chứng minh nhân dân/Thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ hợp lệ khác).

2. Cách thức thi

- Để tham gia thi, thí sinh thực hiện các bước tại mục "Hướng dẫn" trên website Cuộc thi.

- Thí sinh trả lời Bộ câu hỏi trắc nghiệm trong thời gian 30 phút, theo các yêu cầu sau:

+ Mỗi lần thi có 21 câu hỏi, trong đó có 20 câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến chủ đề của đợt thi và 01 câu dự đoán số người trả lời đúng.

+ Đối với câu hỏi trắc nghiệm, thí sinh trả lời bằng hình thức chọn 01 phương án đúng trong các phương án a, b, c, d...

+ Đối với câu dự đoán, thí sinh phải dự đoán số người trả lời đúng toàn bộ câu hỏi trắc nghiệm trong bài thi.

- Thí sinh dự thi có thể tham gia thi nhiều lần trong khoảng thời gian diễn ra Cuộc thi nhưng không quá 03 lần/đợt. Hệ thống website sẽ tự động cập nhật và ghi nhận số lần thi và kết quả thi của thí sinh.

- Thời gian thi được tính từ lúc thí sinh bắt đầu thi cho đến khi bấm nút kết thúc bài thi.

Trong quá trình thi, thí sinh được phép quay lại để trả lời các câu hỏi đã bỏ qua, có thể lựa chọn kết thúc bài thi bất kỳ lúc nào. Hết thời gian quy định, hệ thống tự động kết thúc bài thi của thí sinh.

IV. GIẢI THƯỞNG CUỘC THI

1. Xét giải thưởng

a) Giải cá nhân: Được xét theo từng đợt thi, do Ban Tổ chức Cuộc thi xem xét, quyết định trên cơ sở kết quả chấm tự động của hệ thống website Cuộc thi, dựa trên các tiêu chí sau:

- Thí sinh đạt giải là thí sinh có nhiều câu trắc nghiệm trả lời đúng theo thứ tự xếp hạng được xét từ cao xuống thấp tương ứng với cơ cấu giải thưởng dưới đây. Đối với các giải Nhất, Nhì, Ba, thí sinh phải có ít nhất số câu trả lời đúng là 18/20 câu.

- Trong trường hợp các thí sinh có số câu trắc nghiệm trả lời đúng bằng nhau, hệ thống sẽ căn cứ vào tiêu chí "Thời gian làm bài thi ngắn hơn" để xếp hạng. Nếu trường hợp thí sinh có số câu trắc nghiệm trả lời đúng bằng nhau và thời gian làm bài ngang nhau thì sẽ căn cứ vào câu trả lời dự đoán đúng hoặc gần đúng về số người trả lời đúng toàn bộ câu hỏi trắc nghiệm để xếp hạng.

b) Giải tập thể: Được xét chung cho 02 đợt thi, do Ban Tổ chức Cuộc thi xem xét và quyết định dựa vào các tiêu chí sau:

- Có quán triệt, chỉ đạo hưởng ứng, triển khai Cuộc thi tại cơ quan, đơn vị, địa phương, như: ban hành văn bản hưởng ứng, phát động, triển khai Cuộc thi; tuyên truyền về Cuộc thi; đôn đốc tham gia dự thi.

- Số lượng thí sinh dự thi trong 02 đợt.

- Số lượng thí sinh dự thi đạt giải trong 02 đợt.

2. Cơ cấu giải thưởng

Căn cứ theo Nghị quyết số 122/2014/NQ-HĐND ngày 18/7/2014 của HĐND tỉnh quy định về mức chi thực hiện công tác PBGDPL và chuẩn tiếp cận của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, giải thưởng Cuộc thi được cơ cấu như sau:

a) Giải cá nhân

Giải thưởng mỗi đợt thi được quy định cụ thể như sau:

- 01 giải nhất:                                         5.000.000 đồng;

- 02 giải nhì, mỗi giải:                            2.500.000 đồng;

- 03 giải ba, mỗi giải:                              1.500.000 đồng;

- 10 giải khuyến khích, mỗi giải:               750.000 đồng.

b) Giải tập thể

Dành cho các cơ quan, đơn vị, địa phương có thành tích xuất sắc trong triển khai, hưởng ứng, tham gia cả 02 đợt của Cuộc thi, gồm:

- 01 giải nhất:                                         8.000.000 đồng;

- 02 giải nhì, mỗi giải:                            5.000.000 đồng;

- 03 giải ba, mỗi giải:                              3.000.000 đồng.

Đồng thời, các tập thể, cá nhân đạt giải Cuộc thi còn được nhận Giấy Chứng nhận đạt giải của Ban Tổ chức Cuộc thi.

V. QUY ĐỊNH VỀ KHIẾU NẠI, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

Thí sinh có quyền khiếu nại về kết quả Cuộc thi. Việc khiếu nại được thực hiện bằng văn bản, gửi đến Ban Tổ chức Cuộc thi trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày trao giải thưởng Cuộc thi. Sau thời hạn này, Ban Tổ chức Cuộc thi không xem xét giải quyết khiếu nại.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Ban Tổ chức Cuộc thi là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành.

VI. THÔNG TIN LIÊN HỆ

1. Địa chỉ tra cứu, tìm hiểu thông tin, Thể lệ, hướng dẫn, giải đáp, cập nhật hoạt động của Cuộc thi

Website: http://thitimhieuphapluat.daklak.gov.vn.

2. Hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn đăng ký, cách thức tham gia Cuộc thi

- Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật – Sở Tư pháp (số 04 Trường Chinh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk): 0262.3952.120.

- Email: pbgdpl@tuphap.daklak.gov.vn./.

                                                             

.

                                                                                          

 

Các tin khác

Tin ảnh

Nội dung HTML Nội dung HTML

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH ĐẮK LẮK

Địa chỉ: Số 02 Trần Quang Khải, phường Thắng Lợi - Thành phố Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk: