Nội dung chưa được xuất bản

Đơn vị trực thuộc Đơn vị trực thuộc

HỘI NGHỊ NGƯỜI LAO ĐỘNG NĂM 2020 CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG 333 ()

Ngày 23/12, Công ty Cổ phần Mía đường 333 và Ban Chấp hành Công đoàn Công ty (trực thuộc LĐLĐ huyện Ea Kar) phối hợp tổ chức Hội nghị Người lao động năm 2020. Tham dự hội nghị có Thường trực LĐLĐ huyện và 281 cán bộ, công nhân viên, lao động Công ty.

Đại biểu tham dự hội nghị

Đoàn Chủ tịch và đoàn Thư ký chủ trì Hội nghị

Tại Hội nghị đã đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2020 phương hướng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2021; kết quả hoạt động của CĐCS Công ty cổ phần Mía đường 333; tình hình thực hiện Thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động Công ty. Thông qua hội nghị, CB CNV đã có những đề xuất, kiến nghị với lãnh đạo Công ty trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và đảm bảo các chế độ chính sách cho người lao động… Qua đây, lãnh đạo Công ty cũng tiếp thu, giải đáp cụ thể những vướng mắc của người lao động trong quá trình làm việc.

Ông Đoàn Ngọc Sơn - Chủ tịch HĐQT, Tổng GĐ Công ty trả lời ý kiến cho NLĐ.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đồng chí Vũ Thị Mai Anh - HUV, Chủ tịch LĐLĐ huyện ghi nhận và đánh giá cao công tác phối hợp giữa Ban giám đốc công ty với BCH công đoàn, tạo được sự đồng thuận đoàn kết, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2020, đồng thời đề nghị Công ty cổ phần Mía đường 333 tiếp tục phát huy những mặt mạnh, hoàn thành và vượt chỉ tiêu SXKD năm 2021.

Cũng tại Hội nghị, đã tiến hành ký kết giao ước thi đua phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2021. Thông qua Hội nghị người lao động, đoàn viên công đoàn được phát huy quyền dân chủ trực tiếp; tạo điều kiện để người lao động được biết, tham gia ý kiến liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc tham gia quản lý, xây dựng đơn vị. Thông qua việc thực hiện dân chủ cơ sở, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và phát triển doanh nghiệp.           

Hải Vân (LĐLĐ huyện Ea Kar)

Hiển thị 1 - 1 of 420 kết quả.
Số bài trên trang 1
của 420

GÓP Ý DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG: (06/11/2020)

Thực hiện chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn về việc tổ chức lấy ý kiến của cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ tham góp ý dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, cùng với việc ban hành văn bản chỉ đạo các cấp công đoàn tổ chức lấy ý kiến trong cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ, ngày 23/10/2020, tại Hội nghị cán bộ chủ chốt các LĐLĐ tỉnh, TP, công đoàn ngành Trung ương và tương đương khu vực miền Nam góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng do Tổng Liên đoàn tổ chức tại TP HCM, Đồng chí Võ Thị Hạnh, Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh đã đại diện LĐLĐ tỉnh Đắk Lắk tham gia đóng góp ý kiến tại hội nghị theo chủ đề được Tổng Liên đoàn phân công.

            Ban Biên tập Trang Thông tin điện tử LĐLĐ tỉnh đăng tải dưới đây nội dung góp ý của LĐLĐ tỉnh Đắk Lắk.

TIẾP TỤC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC LAO ĐỘNG VỮNG MẠNH ĐỂ GÓP PHẦN PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

Liên đoàn Lao động tỉnh Đắk Lắk nhất trí cao với một trong năm quan điểm chỉ đạo được xác định tại mục II, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng là: "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó có nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

1.Thống nhất cao quan điểm của Đảng ta trong đường lối đổi mới giai đoạn tới là phải "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại".

1.1. Sức mạnh dân tộc là tổng hợp những lợi thế, những nguồn lực nội sinh của dân tộc, quốc gia bao hàm toàn bộ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; truyền thống và hiện tại; dưới dạng tiềm năng và trong những biểu hiện hiện thực... Ngày nay, sức mạnh dân tộc của nước ta được tạo nên bởi quy mô và chất lượng của dân số cả nước (gần 95 triệu người, trong đó gần 45 triệu người trong độ tuổi lao động); các nguồn lực tự nhiên khá phong phú (đất đai, rừng, biển, khoáng sản...); vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế của đất nước; truyền thống yêu nước, tự lực, tự cường; nền văn hóa đậm tính nhân văn, cộng đồng; đóng góp của cách mạng Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội trên thế giới; sự ổn định chính trị - xã hội; đường lối đúng đắn của Đảng và sự đồng tình, ủng hộ của tuyệt đại đa số các tầng lớp nhân dân; sức mạnh tổng hợp quốc gia và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế sau 30 năm đổi mới.

1.2. Sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại trong giai đoạn hiện nay được cấu thành bởi sức mạnh của các xu thế lớn, trong đó dòng chủ lưu là hòa bình, hợp tác và phát triển; sức mạnh của cộng đồng quốc tế ngày càng đồng thuận trong kiến tạo, củng cố một trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, công bằng, bình đẳng; sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì các mục tiêu cao cả là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển bền vững; sức mạnh của hàng trăm quốc gia phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG); sức mạnh của thế giới văn minh trong kỷ nguyên của cách mạng khoa học  công nghệ, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa...

1.3.Trong Cách mạng giải phóng dân tộc, Việt Nam đã phát huy tối đa sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại; kết hợp chúng một cách vô cùng hiệu quả với sức mạnh dân tộc. Bởi vậy, đã làm thay đổi tương quan lực lượng ngày càng có lợi trong chiến đấu và chiến thắng thực dân, đế quốc, các thế lực phản động, làm nên một trong những bản anh hùng ca đẹp nhất của loài người tiến bộ trong thế kỷ XX. Trong 30 năm đổi mới, một lần nữa phong cách Việt Nam kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại lại để lại dấu ấn đặc sắc qua các kết quả, thành tựu to lớn.

1.4. Vì vậy, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế là vấn đề chiến lược, quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung và phương thức kết hợp phải được xác định phù hợp với từng điều kiện cụ thể. Trong tình hình hiện nay, cần kế thừa thành tựu, kinh nghiệm của các thời kỳ trước kia; đồng thời, cần bám sát yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ, lợi ích của quốc gia dân tộc và các xu thế vận động của thế giới đang đổi thay để bảo đảm cho Việt Nam có được sức mạnh tổng hợp to lớn nhất, vững bước trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Ảnh: Hội nghị cán bộ chủ chốt các LĐLĐ tỉnh, TP ngành Trung ương khu vực miền Nam góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng do Tổng Liên đoàn tổ chức tại TP HCM.

2. Thống nhất cao quan điểm " Phát huy tối đa nội lực; nguồn lực con người là quan trọng nhất".

2.1. Nguồn lực con người là tổng thể những tiềm năng, năng lực của mỗi cá nhân và cộng đồng tạo ra sức mạnh để thúc đẩy xã hội phát triển. Nguồn lực con người bao gồm cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Chủ nghĩa Mác-Lê nin đã khẳng định: "Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất". Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ: "Trong bầu trời không có gì quý hơn nhân dân". Đảng ta luôn xác định: "Con người vừa là mục tiêu động lực của quá trình phát triển kinh tế-xã hội".

2.2. Muốn phát huy tối đa nội lực, cần phát huy nguồn lực con người. Liên hệ với thực tế nguồn nhân lực của tỉnh Đắk Lắk hiện nay, chúng tôi có ý kiến làm rõ hơn quan điểm nêu trong dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng về phát huy nguồn lực con người như sau:

2.2.1. Năm 2019, quy mô dân số của Đắk Lắk là 1.869.322 người, đứng đầu khu vực Tây Nguyên và đứng thứ 10 trong cả nước. Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 143,5 người/km2, tăng 10,86 người/km2. Trong tổng dân số của toàn tỉnh có 462.013 người cư trú khu vực thành thị và 1.407.309 người ở khu vực nông thôn.Tỷ số giới tính của dân số năm 2019 là 101,7 nam/100 nữ.

Về số lượng, nguồn nhân lực của tỉnh Đắk Lắk khá lớn song về chất lượng nguồn nhân lực vẫn đang là mặt hạn chế của tỉnh so với mặt bằng chung cả nước. Đắk Lắk vẫn là địa phương có trình độ dân trí thấp và không đồng đều ở các vùng, khu vực. Đồng bào các dân tộc sinh sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của tỉnh tuy đã dần thoát được nghèo đói song vẫn còn mù chữ hoặc tái mù chữ. Lực lượng công nhân viên chức lao động của tỉnh, nhất là người lao động tại các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp trình độ học vấn, tay nghề vẫn còn hạn chế. Chính vì phần lớn lao động làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp nên ít nhiều vẫn còn tâm lý sản xuất tiểu nông, chưa có tác phong công nghiệp và tính kỷ luật cao trong lao động sản xuất. Đối với lực lượng trẻ, hầu hết các sinh viên con em người dân Đắk Lắk khi tốt nghiệp đại học cũng đều tìm kiếm việc làm ở các địa phương khác lân cận như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai.. Một số trí thức giỏi, có nhiều kinh nghiệm trên lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật cũng dần chuyển về các thành phố lớn để làm việc. Vì vậy, có thể nói, hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của Đắk Lắk thực sự là một rào cản rất lớn cho việc phát triển một vùng đất Tây Nguyên với nhiều tiềm năng, lợi thế lớn.

2.2.2. Để thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về "Phát huy nguồn lực con người"; căn cứ thực trạng trên về tình hình nguồn nhân lực của địa phương nói chung và lực lượng công nhân viên chức lao động của tỉnh nói riêng, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thiết nghĩ, trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm tới được xác định tại Đại hội XIII của Đảng, Trung ương cần có quan điểm và giải pháp ưu tiên đầu tư để xây dựng nguồn nhân lực cho Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng nhằm hỗ trợ địa phương tập trung thực hiện những giải pháp sau:

- Cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh, đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp để khai thác các tiềm năng lợi thế của tỉnh như tiềm năng đất, trồng các loại cây công nghiệp giá trị cao, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và công nghệ phần mềm, du lịch…Từ thúc đẩy công nghiệp phát triển sẽ góp phần thu hút, xây dựng và đào tạo một lực lượng lao động có chất lượng cao hơn cho tỉnh. Từ đó, cũng "giữ chân" những trí thức giỏi và sinh viên có quê quán ở Đắk Lắk khi tốt nghiệp ra trường trở về công tác và gắn bó với địa phương.

- Để thu hút đầu tư, cần xây dựng về hạ tầng giao thông để tạo liên kết vùng miền, trước hết là thông thương để kết nối "rừng với biển", tạo thuận lợi để thu hút thêm nguồn lao động từ các địa phương khác, bổ sung nguồn nhân lực cho tỉnh.

- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ dân trí, nhất là đối với người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của tỉnh. Riêng đối với tổ chức công đoàn, sẽ tích cực phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh, tham mưu tiếp tục thực hiện tốt giải pháp về xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân theo tinh thần Nghị quyết số 20/NQ-TW và Kế hoạch 47/KH-TU của Tỉnh ủy; chủ động tham mưu cho tỉnh và triển khai thực hiện Đề án 231 của Chính phủ về "Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2020", tập trung nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức chính trị, pháp luật, kỹ năng sống cho người lao động. Trong đó, đặc biệt chú ý việc phối hợp với Ngành Giáo dục và Đào tạo của tỉnh mở các lớp bổ túc văn hóa tại doanh nghiệp, tổ chức các lớp học xóa mù chữ và phổ cập tiểu học cho công nhân lao động là người dân tộc thiểu số, công nhân lao động nghèo tại các doanh nghiệp, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân viên chức lao động vững mạnh, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.

Võ Thị Hạnh, Phó Chủ tịch Thường trực LĐLĐ tỉnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Các tin khác

Danh sách video Danh sách video

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

Thống kê truy câp: 6937233

.Hôm nay: 148554
.Hôm qua: 36194
.Trong tuần: 198919
.Tất cả: 6937233

Nội dung chưa được xuất bản

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH ĐẮK LẮK

Địa chỉ: Số 02 Trần Quang Khải, phường Thắng Lợi - Thành phố Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk: